Monday, May 11, 2026

Đọc Tháng Ba Gẫy Súng của Cao Xuân Huy Thạch Đạt Lang

Tháng Ba Gẫy Súng không phải là một truyện dài mà là hồi ký của một cựu trung úy Thủy Quân Lục Chiến, viết về một đoạn đời binh nghiệp ngắn ngủi của ông, thời gian không quá nửa tháng, đầy hào hùng nhưng cũng đầy đau thương, phẫn nộ, bi đát mà ông trải qua.
Tôi đọc hồi ký này lần đầu tiên năm 1990, nhân một cuộc họp mặt giữa những người bạn cũ, một người đã tặng tôi cuốn hồi ký. Nay nhân dịp tháng ba 2016, tôi muốn giới thiệu với các bạn trẻ VN, trong nước cũng như hải ngoại về cuốn hồi ký này.
Đây không phải là cuốn hồi ký được viết để chạy tội, khoe khoang thành tích, hoặc bào chữa cho thái độ hèn nhát của mình như nhiều cuốn hồi ký của các lãnh đạo đất nước, tướng lãnh trong quân lực VNCH đã được in ấn, xuất bản tại hải ngoại.
Tôi cũng không có ý đề cao quyển hồi ký, bởi tự nó đã có giá trị qua việc tái bản 10 lần, đồng thời đã có nhiều nhà văn, nhà báo bình luận về cuốn hồi ký, không thấy ai chê bai, chỉ trích về giá trị sống thực của nó. Ấn bản trên giấy có thể không còn, nhưng độc giả muốn đọc nguyên tác, có thể vào Việt Nam Thư Quán đọc online hay tìm kiếm trên mạng dưới dạng PDF.
Tôi chỉ muốn các bạn trẻ, khi tìm hiểu về cuộc chiến Quốc-Cộng có thêm một cái nhìn, một nhận định 2 mặt phải, trái của một quân đội anh dũng, kiên cường, đã chiến đấu suốt 21 năm để bảo vệ miền Nam yên ổn, an bình, nhưng cuối cùng đã bị tan rã chỉ trong 55 ngày.
Cao Xuân Huy sinh năm 1947, chết năm 2010. Hồi ký được viết năm 1984 sau khi ông Huy vượt biên (1982) qua tới Mỹ, sách được in và xuất bản năm 1985, tức cách đây đúng 31 năm. Những người trẻ sinh sau năm 1975, trong nước cũng như hải ngoại, nếu không hay đọc sách, báo Việt Nam, không có cha, anh nói cho biết, khó lòng biết hay có dịp đọc đến hồi ký này.
Ngay từ đầu, Cao Xuân Huy đã xác nhận ông không phải là nhà văn, chưa từng cầm bút nên không biết sắp xếp câu chuyện ra sao, ông viết chỉ vì muốn phản biện lại lời tuyên bố của một ông Tướng:
„-Chúng ta thua trận, mất nước, mọi người đều có lỗi. Lớn có lỗi lớn, nhỏ có lỗi nhỏ“.
Đây là một lời ngụy biện, chối bỏ trách nhiệm của những kẻ thân làm tướng nhưng hèn nhát, bỏ mặc đơn vị, tháo chạy trước khi giao tranh với địch quân.
Cao Xuân Huy: Thật sự khi mà cầm bút viết tôi chỉ vì một điều ấm ức rằng là một ông tướng cũ của mình ổng tuyên bố rằng “để mất nước (là) tội chung mọi người, lớn tội lớn, bé tội bé” thì tôi không đồng ý điều đó, tại vì chúng tôi đánh nhau đến viên đạn cuối cùng rồi bị bắt thì không phải là chúng tôi có tội. Tôi tức quá về điều đó, tôi viết ra, mà viết nửa chừng rồi thôi, thế rồi vì ở chung nhà với Nguyễn Mộng Giác, ổng lấy ổng đem đăng, xong rồi hết thì ổng thúc, cứ hết thì ổng thúc, hết thì thúc, thì cứ thế mà viết thôi. Đó là cái khởi đầu của quyển sách.
Riêng cái tên cuốn hồi ký cũng đã nói lên sự thật chua chát, cay đắng của đoạn đới lính cuối cùng của ông, tháng 3 năm 1975. Một quân đội dù tinh nhuệ, thiện chiến đến đâu cũng không thể chiến đấu khi vũ khí trong tay họ chỉ là những khối sắt vô dụng.
Cao Xuân Huy: “Tháng Ba”thì mọi người đã rõ, còn “gãy súng” – tôi muốn nói lên một điều đau lòng cho những thằng lính cầm súng, khẩu súng mà không có đạn thì giá trị không bằng một khúc cũi mục.
Chính tôi đã dẫn đại đội xung phong lên chiếm mục tiêu mà chỉ bắn bằng mồm. Súng của chúng tôi có phải đã bị bẻ gãy không, khi mà vẫn có thể tiếp tế đạn cho chúng tôi để chúng tôi chiến đâu? Ai đã bẻ gãy súng của chúng tôi?
Tôi đặt chữ “gãy súng” cho quyển sách là như vậy. Tôi gọi “Tháng Ba gãy súng” là hồi ký vì tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm về những điều tôi viết. Tất cả những địa danh, những tên người, tên đơn vị, tất cả những diễn tiến đều là thật, thật một trăm phần trăm. Tôi không lồng vào đấy bất cứ một hư cấu nhỏ nào. Chắc chắn là tôi đã quên khá nhiều chi tiết. Và với cấp bậc và chức vụ thấp kém của tôi, chắc chắn là có rất nhiều dữ kiện mà tôi đã không được biết.”
Ngay trong phần tựa đề hồi ký, Cao Xuân Huy đã không nén được sự giận dữ khi phê phán những tướng lãnh, chi huy cao cấp trong quân đội, những người có trong tay những đơn vị thiện chiến, xuất sắc nhưng không hề biết sử dụng và cũng không biết được trách nhiệm của mình:
Làm thuyền trưởng thì phải sống chết theo tàu, làm đơn vị trưởng thì phải sống chết theo đơn vị. Tôi muốn nói đến tinh thần trách nhiệm của người chỉ huy. Người có quyền hành mà không có trách nhiệm nào có khác gì kẻ phản bội.
Chúng ta thua không phải vì kẻ địch mạnh mà vì trong hàng ngũ chúng ta có quá nhiều kẻ phản bội và hèn nhát. Chính vì lòng thù hận sự hèn nhát và vô trách nhiệm của cấp chỉ huy nên hình ảnh và diễn tiến những ngày cuối cùng trước khi cả lữ đoàn tan rã và bị bắt bởi khoảng hơn một đại đội du kích Việt Cộng vào nửa cuối tháng Ba năm 1975 đã như một cuốn phim nằm in trong trí nhớ của tôi, chỉ cần một cái ấn nút là được chiếu lại một cách rõ nét với đầy đủ những suy nghĩ và phản ứng của tôi, với từng diễn tiến nhỏ mà tôi đã phải trải qua. „
Ở đoạn tiếp theo, ông nhận định những người lãnh đạo đất nước, chỉ huy trong quân đội đã không có dũng khí để đón nhận trách nhiệm mà thường chỉ tìm cách biện minh cho những lỗi lầm, những quyết định sai trái :
Điều tôi muốn nói trong quyển sách này là không ai là không quay lại nhìn chỗ mình vừa ngã, và cũng không ai là không quay lại nhìn đống phân mình vừa thải. Ngã là lỗi của chính mình, và phân có thối cũng là phân của mình, vậy mà tại sao cả chục năm nay vẫn không thấy ai dám quay nhìn lại cái lỗi đã làm cho mình ngã lên ngay trên đống phân của mình, mà chỉ có toàn những lời chửi bới và đổ lỗi cho người khác, can đảm lắm cũng chỉ dám nhận một cái lỗi chung chung “lớn lỗi lớn, bé lỗi bé” đúng theo cái kiểu “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”. Thằng thất phu còn có lỗi thì còn ai mà không có lỗi, tôi cũng đành có lỗi vậy.
Tôi không nhớ câu này của ai: “Cái đám quân thần của triều đình cũ chẳng có gì phải ngại cả, vì khi có quân có quyền trong tay họ còn chẳng làm được trò trống gì, thì bây giờ, chỉ còn trơ lại có mỗi cái thân giá áo túi cơm, hỏi rằng họ sẽ làm được gì hơn ngoài cái giá và cái túi”.
Đâu phải đất nước ta là một bàn cờ để hễ đánh thua ván này, xóa đi xếp quân làm lại bàn khác mà tướng vẫn là tướng, quân vẫn là quân. Đâu phải những con xe, con mã, con chốt đã chết đi đều có thể dựng đầu dậy để làm lại một trận mới.
Hơn thế nữa, với một số những lãnh đạo đất nước, tướng lãnh VNCH đã đào ngũ, tự ý rời bỏ đơn vị, tháo chạy vào những ngày cuối tháng Tư 1975, ra hải ngoại vẫn còn múa may, làm phường chèo, Cao Xuân Huy đã không nhân nhượng bình phẩm:
Trí đã không mà dũng cũng không, chỉ có mỗi cái tài dở dở ương ương là sử dụng một cách bừa bãi cái dũng của người khác đến nỗi phải bỏ cả đất nước mà chạy, đánh lừa để bỏ hàng triệu thằng dám chiến đấu tới cùng vào trong những trại tù đỏ, vậy mà vẫn còn dám chường mặt ra đòi tiếp tục làm cha mẹ dân thì quả là quá lắm lắm. Cái dĩ vãng thối tha và hèn nhát thì dù cho người đương thời có thể bỏ qua, nhưng lịch sử đâu có tha thứ. Vẫn cái chính danh là chống Cộng nhưng cái ngôn của các ông trước kia làm xếp lớn đã không thuận rồi, bây giờ phải để cho lớp người mới. Với tư thế mới, họ mới là những người thuận ngôn. Danh chính ngôn thuận mới có thể thắng được Việt Cộng, khôi phục lại được đất nước. Những con chốt thấp cổ bé miệng, những thằng bị đè đầu sai khiến ngày xưa và những người mới lớn bây giờ mới có quyền nói và mới là người có tư cách làm.
Cao Xuân Huy xác nhận ông không phải là một người hùng nhưng cũng không là một kẻ hèn nhát, ông chỉ đơn thuần là một người lính của một đơn vị thiện chiến với đầy đủ những thói hư, tật xấu nhưng khi ra trận luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao phó:
Tôi không phải là một người hùng, nhưng tôi cũng không phải là một người hèn. Tôi chỉ là một người lính, lính của một binh chủng chuyên môn đánh trận và chỉ nhận những người tình nguyện; tôi phải xứng đáng với màu mũ tôi đang đội, màu áo tôi đang mặc, và hơi cá nhân một chút, tôi phải xứng đáng với cặp lon tôi đang đeo… Nhưng tôi cũng không phải là một người lính gương mẫu, đúc khuôn theo những điều được huấn luyện trong quân trường, thi hành đúng 8 điều, 10 điều tâm niệm của mấy ông Chiến Tranh Chính Trị đẻ ra mà chính mấy ông ấy lại không bao giờ thi hành. Tôi là một thằng lính ba gai, cờ bạc, rượu chè, trai gái đủ cả nhưng đánh giặc cũng rất tận tình. Chưa một ai, thượng cấp cũng như thuộc cấp, phải than phiền về tôi trong những trận đánh.“
Cái bi kịch của Cao Xuân Huy và những người lính TQLC trong đơn vị bắt đầu từ lúc ông dẫn đơn vị di chuyển ra cửa biển Thuận An, Huế để lên tầu về Đà Nẵng. Chỉ huy các cấp của các binh chủng khác đã bắt đầu bỏ rơi đơn vị không một lời thông báo cho thuộc cấp, không có kế hoạch rút lui:
„Đến cầu Bạch Hổ, tại chòi gác ở gần cầu, tôi thấy một người lính Nghĩa Quân quần áo súng đạn rất chỉnh tề đang đứng gác. Tôi ngạc nhiên hỏi:
“Giờ này còn đứng gác cái mẹ gì ở đó, cha nội?”
“Em không nhận được lệnh gì hết.”
“Lệnh cái con cặc, tiểu đội trưởng mày đâu?”
Một người lính già tay xách khẩu súng chạy lại.
“Dạ tôi.”
“Huế bị bỏ rồi, ông còn gác cái gì nữa. Tôi là trung úy ra lệnh tan hàng, về lo mang vợ con đi gấp nghe không!”
“Dạ.”
Thật tôi không thể hiểu nổi tại sao mấy ông xếp lại có thể nhẫn tâm bỏ lại lính tráng mà chạy lấy thân như vậy, trong khi tình hình đâu đến nỗi. Trung đội 2 của Huy mập đã bị mấy ông xếp bỏ rơi. Không, tiểu đội Nghĩa Quân này bị lừa ở lại thì đúng hơn.
Những loại ông xếp vô liêm sỉ này trong quân đội chắc chắn không phải là ít. Không hiểu hiện giờ ở khắp Quảng Trị Thừa Thiên này có bao nhiêu đơn vị nhỏ còn đang phải thi hành nhiệm vụ nào đó trong khi các ông xếp của họ đã ung dung ở Đà Nẵng hoặc Sài Gòn. Xin hãy gắn anh dũng bội tinh với nhành dương liễu cho những ông xếp này. Ờ mà hình như cũng chẳng phải xin, vì thường ra thì huy chương được gắn nhanh và nhiều vào ngực áo của những thằng chẳng bao giờ biết đánh đấm là gì. Xin cám ơn những cái huy chương.“
Phẫn nộ của Cao Xuân Huy càng tăng khi đi vào thành phố Huế – thành phố đã bị bỏ ngỏ, trống vắng, người dân thấy lính VNCH rút đi hết cũng bỏ nhà cửa chạy theo – được diễn tả qua đoạn dưới đây:
Một nỗi buồn dâng lên trong tôi, không khóc nhưng mắt tôi đoanh tròng. Bao nhiêu gian truân, bao nhiêu xương máu, bao nhiêu xác người, bao nhiêu mồ hôi nước mắt của bạn bè, của anh em đồng đội tôi đã đổ xuống cho cái vùng địa đầu nghiệt ngã này. Bản thân tôi cũng đã hai lần đổ máu ở nơi này, bây giờ bỗng chốc bỏ đi, hỏi ai là người không tức tưởi.
Đù má những thằng chịu trách nhiệm trong vụ bỏ Huế này, lịch sử sẽ bôi tro trát trấu vào mặt chúng! Những ai đã từng tuyên bố, từng hô hào tử thủ Huế giờ này ở đâu? Khốn nỗi, những thằng đánh trận mà luôn luôn đi đàng sau và luôn luôn bỏ chạy trước lại là những thằng có quyền, có quyền mà hèn nhát, đốn mạt nên bây giờ bao nhiêu người khốn đốn, rút chạy như một lũ thua trận.
Nhưng thực sự chúng tôi đã đánh nhau đâu để bị gọi là thua! Đồ tiếp liệu trong thành Mang Cá dư sức cung cấp cho lữ đoàn tôi ít nhất là ba tháng, tại sao không cho chúng tôi vào thành Nội? Ờ mà tử thủ làm chó gì, bao nhiêu thằng xếp cút mẹ nó hết rồi, vợ đẹp con khôn và tiền bạc bao năm ăn bẩn không lẽ lại vứt bỏ. Vậy thì tội chó gì mình lại nghĩ đến chuyện ở lại đánh nhau để chết oan mạng, cùng lắm được vài giọt nước mắt cá sấu, một cái huy chương không giá trị, những lời ca tụng giả dối, ngoài cửa mồm thôi chứ có mẹ gì nữa đâu. Đồ chó má! „
Bên cạnh sự căm phẫn, tác giả cũng không quên đề cập đến sự hào hùng, kiên cường, anh dũng của binh chủng TQLC nói riêng và quân lực VNCH nói chung. Ông viết về một người lính dưới quyền trong đại đội của mình:
Người lính cuối cùng của đại đội vắng mặt khi tập họp đã tìm đến, binh nhất Tuấn. Tuấn bị bắn nát cánh tay trái, máu nhuộm đỏ cả tay áo, quần áo người ngợm ướt nhẹp, bê bết bùn, nhưng vẫn vác khẩu đại liên M-60 với còn chừng nửa dây đạn trên vai phải.
Ra đến bãi biển Thuận An, những lệnh lạc kỳ lạ, những tính toán khó hiểu của cấp chỉ huy khiến Cao Xuân Huy muốn điên đầu. Một đoàn quân di tản không được lệnh xuống tàu, nằm chờ trên một bải biển trống vắng dễ dàng trở thành những mục tiêu tác xạ cho địch quân. Lý do nào đã không có lệnh lạc rõ ràng trong cuộc rút quân này? Cao Xuân Huy băn khoăn ghi lại:
Chỉ cần một tay binh nhất có nghĩa là chỉ cần có chừng một năm kinh nghiệm chiến trường, thằng dốt đặc về quân sự, thằng chưa được học một khóa tiểu đội trưởng nào, chứ đừng nói đến hạ sĩ Nam lùn, trung sĩ Châu, cũng đã hiểu là chúng tôi phải xuống tàu càng nhanh càng sớm càng tốt, vì càng dây dưa bao nhiêu là càng rút ngắn khoảng cách giữa chúng tôi với Việt Cộng bấy nhiêu. Đại bàng Lâm Thao tức đại tá lữ đoàn trưởng chắc chắn là biết điều này, vậy thì vì lý do gì chúng tôi đã không được xuống tàu.
Với đội hình một hàng dọc ngoằn ngoèo như con rắn ở dọc bờ biển, chúng tôi nhận lệnh ngồi xuống. Chiếc tàu đã ra xa bờ và “đợi” chúng tôi tận ngoài khơi. Dĩ nhiên nó không thể đậu mãi ở gần bờ để xem chúng tôi đi dạo mát, để xem chúng tôi nấn ná không có một hành động nào chứng tỏ chúng tôi muốn xuống tàu cả. Hai ông xếp lớn của chúng tôi, đại tá Lương lữ đoàn trưởng và trung tá Tống lữ đoàn phó đứng thản nhiên nói chuyện, cười đùa thân mật với một ông xếp lớn nữa là trung tá Tòng (trong những bản in trước, vì trông gà hóa cuốc, tôi đã viết là đại tá Thiệt, biệt danh “Tử Thần”, xin thành thật tạ lỗi với “Tử Thần”) liên đoàn trưởng liên đoàn 14 Biệt Động Quân. Không hiểu cả ba ông xếp lớn đang nghĩ gì trong những cái đầu của họ, đang thú vị gì trong những câu pha trò của họ, đang bàn bạc gì bằng những cái mồm của họ. Chỉ biết là cả ba đứng nói chuyện rất thoải mái và thỉnh thoảng cười ồ lên hình như vì một câu pha trò đầy ý nhị.
Trong một đoạn khác, ông tả lại môt cuộc xung phong bằng một chiến thuật, đánh bật kẻ thù ra khỏi chiến hào, cuộc xung phong có lẽ không hề được ghi trong quân sử, cũng như không quân đội nào trên thế giới dám học hỏi, như sau:
„Đại đội tôi đã ở cách đám đông hỗn loạn đó cả trăm thước nên không bị cuốn theo phản ứng loạn xạ của họ.
Sẵn đội hình hàng ngang, tôi dẫn đại đội xung phong ngay tức khắc vào mấy lùm dương phát ra tiếng súng trên các đụn cát, vừa xung phong vừa reo hò tở mở. Kết quả rất hài lòng, khoảng chừng một trung đội Việt Cộng bị đẩy bật ra khỏi vị trí trước sức tấn công vũ bão “bằng mồm” của chúng tôi. Tấn công “bằng mồm” đừng nghĩ là chúng tôi nấp kín một chỗ bắn loạn lên trời rồi mồm la xung phong, cũng đừng hiểu tấn công “bằng mồm” có nghĩa là tấn công bằng đạn mã tử vừa tiến vừa la dưới sự kiểm soát của huấn luyện viên chiến thuật trong quân trường.
Tấn công “bằng mồm” ở đây có nghĩa là chúng tôi xung phong tiến chiếm mục tiêu hẳn hoi, Việt Cộng bị đẩy bật ra khỏi vị trí nhưng không một tên nào chết hoặc bị thương, vì khi xung phong chúng tôi đã không bắn một viên đạn, mà chỉ có cái mồm ngoác ra mà la, mà reo hò.“
Bên cạnh những hào hùng, anh dũng và kiên cường đó, cuốn hồi ký cũng ghi lại những thảm cảnh, những đối xử tàn nhẫn giữa những người lính cùng chiến hào với nhau, khi chiếc tàu chở lữ đoàn TQLC của ông bị mắc cạn, không thể ra khơi vì ngoài số TQLC còn có một số người của các binh chủng khác khiến cho tàu quá tải, lại bị nước cạn. Một số người không phải TQLC đã bị bắn, quăng xác xuống biển cho tàu nhẹ bớt.
Có còn cách nào khác hơn để làm cho con tàu nhẹ bớt và có thể ra khơi? Trong hoàn cảnh đó, ai có thể làm điều gì để ngăn chận tình trạng này? Cá nhân ông Cao Xuân Huy cũng không an toàn trong tình trạng đó.
Chiến tranh là sự tàn ác, giết chóc với kẻ thù trong khi giao chiến ở mặt trận, không ai kêu gọi lòng nhân đạo khi đang bắn giết nhau giữa những kẻ thù, nhưng con người vẫn có thể tàn ác với cả đồng đội, những người cùng chiến hào với mình khi họ cảm thấy đồng đội là những chướng ngại gây nguy hiểm, cản trở họ trong khi rút chạy.
Cao Xuân Huy đã tả lại trung thực tình trạng bi thảm, đau đớn này như sau:
„Lên đến trên tàu, không khí quá nặng nề ngột ngạt. Không phải nặng nề ngột ngạt vì số người trên tàu quá đông, mà vì cả tàu đang bị bao trùm bằng mùi giết chóc, căng thẳng.
Huy mập nhét vào tay tôi khẩu súng ngắn, dặn dò:
“Súng tôi lên đạn sẵn, ông giữ cẩn thận.”
“Còn gì nữa để mà phải thủ súng lên đạn sẵn?”
“Thì ông cứ giữ đề phòng. Biết đâu có lúc phải xài tới.”
Chưa kịp tìm chỗ ngồi, tôi nghe một tiếng súng nổ.
Hai người lính Thủy Quân Lục Chiến cúi xuống khiêng xác một người lính Bộ Binh vừa bị bắn chết ném xuống biển. Một người lính Thủy Quân Lục Chiến khác đang gí súng vào đầu một trung úy Bộ Binh ra lệnh:
“Đụ mẹ, có xuống không?”
“Tôi lạy anh, anh cho tôi đi theo với.”
“Đụ mẹ, tao đếm tới ba, không nhảy xuống biển tao bắn.”
“Tôi lạy anh mà, tôi đâu có gia đình ở ngoài này.”
“Đụ mẹ, một.”
“Tôi lạy anh mà, anh đừng bắt tôi ở lại, anh muốn lạy bao nhiêu cái tôi cũng lạy hết. Tôi lạy anh, tôi lạy anh.”
“Đụ mẹ, hai.”
“Trời đất, mình đồng đội với nhau mà, anh không thương gì tôi hết. Tôi lạy anh mà.”
“Đụ mẹ, ba.”
Tiếng ba vừa dứt, tiếng súng nổ.
Người trung úy Bộ Binh ngã bật ngửa ra, mặt còn giữ nguyên nét kinh hoàng. Viên đạn M-16 chui vào từ đỉnh đầu. Xác của anh ta được hai người lính Thủy Quân Lục Chiến khác khiêng ném xuống biển.“
Một sự tàn ác khác, sự tàn ác của người chiến binh cộng sản với tù binh VNCH, bắn giết tù binh để trả thù những lần bị đánh tơi tả trong các cuộc giao tranh cũng được ngòi bút Cao Xuân Huy nói đến không một nhân nhượng:
Đoàn tù chúng tôi đi thất thểu trên đường, đoành một tiếng, một xác người ngã xuống bờ ruộng, đoành một tiếng, một xác người nữa ngã xuống bờ ruộng. Một người đi ngay bên cạnh tôi bị bắn vào đầu, máu và óc văng dính cả vào người tôi.
Trò bắn giết rất kỳ cục và khó hiểu. Những người bị bắn chết và những người không bị bắn -hay chưa bị bắn- đều không hiểu tại sao bọn Việt Cộng lại bắn người này mà không bắn người kia. Tại sao thằng Việt Cộng này không bắn người này mà bắn người nọ? Chúng tôi rất hoang mang nhưng lúc này không ai có phản ứng gì, mọi người vẫn cứ lầm lũi, thất thểu đi. Đói, khát, mệt mỏi và luộm thuộm lếch thếch, chúng tôi đi, hoang mang không hiểu bao giờ đến lượt mình bị bắn.
Số người bị bắn mỗi lúc dĩ nhiên mỗi nhiều hơn. Tất cả lon lá đã được gỡ ra từ sáng, khi chúng tôi mới nhận được quần áo mang từ bờ biển vào. Râu ria trên mặt biểu hiệu cho chức cấp hiểu theo nghĩa Việt Cộng cũng không phải, vì nhiều người để râu, trong đó có cả tôi, không hay chưa bị bắn, nhiều người râu ria nhẵn nhụi đã bị bắn.
Mãi về sau, khi nghe được bọn Việt Cộng cầm súng đi tìm người để bắn nói chuyện với nhau chúng tôi mới vỡ lẽ ra. Những tên Việt Cộng nào đã từng bị tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến nào đánh cho xất bất xang bang lúc trước, lúc này cứ đi tìm huy hiệu và bảng tên của tiểu đoàn đó mà bắn.
Ngay cả khi bị bắt cũng có người trong đám tù binh can trường đấu lý, và phải trả giá về mạng sống của mình khi đặt câu hỏi với tên cán bộ chính trị đang thao thao bất tuyệt về chính sách khoan hồng nhân đạo (gian dối) của người cộng sản:
„Một người đứng lên hỏi.
“Xin anh giải thích cho chúng tôi một số điều, thứ nhất hành động chôn người tập thể tại Huế trong trận tết Mậu Thân và bắn giết bừa bãi những người dân vô tội tại đại lộ kinh hoàng năm 72, thứ nhì, tại sao mang tiếng là xâm lược mà khi chúng tôi rút khỏi Quảng Trị và Huế, dân chúng lại bỏ chạy hết vào Đà Nẵng và Sài Gòn để tránh nạn Cộng Sản, thứ ba, anh giải thích thế nào về hành động quân đội nhân dân của các anh đã và đang cướp bóc ở bên kia phá, thứ tư, chúng tôi sử dụng súng đạn của đế quốc Mỹ hay mấy anh sử dụng súng đạn của Cộng Sản Nga, Tàu để tàn sát đồng bào, thứ năm…”
Tên cán bộ chính trị Việt Cộng tức giận ngắt lời và ra lệnh cho bọn thủ hạ.
“Lôi cổ thằng ngoan cố này ra ngoài” – quay sang chúng tôi, hắn gằn giọng – Các anh phải biết Đảng và nhân dân chỉ khoan hồng cho người nào thực sự biết ăn năn hối cải, còn tên nào ngoan cố chỉ có hại vào thân thôi.”
Nói xong, tên này hầm hầm đi ra ngoài.
Chúng tôi nghe một tiếng súng nổ ở phía phá Tam Giang.
Bên cạnh sự tàn ác, của quân cộng sản, Cao Xuân Huy cũng không quên nhắc đến tình cảm, sự thương yêu của đồng bào miền Nam đối với những người lính của quân đội VNCH:
Dân làng gánh những thúng cơm đến phát cho chúng tôi. Mỗi phần ăn được chừng một bát cơm và một miếng cá khô gói trong lá chuối. Phần ăn dù ít cũng không đủ để phát đều cho tất cả chúng tôi. Lý do khá giản dị là không ai tưởng tượng nổi con số chúng tôi bị bắt đông đến như vậy.“
Hồi ký kết thúc khi cuộc trả thù dã man của cán binh cộng sản với người lính VNCH chấm dứt. Cao Xuân Huy bị đưa về trại tù binh chính thức ở Bắc Khe Sanh:
Mãi về sau, khi nghe được bọn Việt Cộng cầm súng đi tìm người để bắn nói chuyện với nhau chúng tôi mới vỡ lẽ ra. Những tên Việt Cộng nào đã từng bị tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến nào đánh cho xất bất xang bang lúc trước, lúc này cứ đi tìm huy hiệu và bảng tên của tiểu đoàn đó mà bắn.
Người mặc áo có gắn phù hiệu của tiểu đoàn 5 không bị thằng Việt Cộng này bắn nhưng bị thằng Việt Cộng khác bắn. Người mặc áo có gắn phù hiệu tiểu đoàn 3 bị bắn bởi thằng Việt Cộng không bắn người mặc áo của tiểu đoàn 4.
Chúng tôi lột hết bảng tên và phù hiệu tiểu đoàn.
Cuộc bắn giết thưa dần rồi chấm dứt.
Chúng tôi bị đưa về căn cứ La Sơn nhốt tạm để sau đó, hạ sĩ quan và binh sĩ bị đưa nhốt ở Khe Tre, Nam Đông. Đám sĩ quan chúng tôi bị đưa về cây số 23, gần ngay chỗ Ban chỉ huy tiểu đoàn 4 ít ngày trước, đối diện với làng Đồng Lâm.
Khoảng giữa tháng Tư, chúng tôi bị đưa về trại tù binh chính thức nằm phía bắc Khe Sanh, sát biên giới Lào, ở ngay đầu nguồn sông Bến Hải.
Thạch Đạt Lang 

Tuesday, March 10, 2026

Quay Lại Cuốn Phim Tại Sao Mất Ban Mê Thuộc Tháng 3 năm 1975

Image 
Nguyễn Ngọc Tuấn 
ĐĐT/CSDC Kiêm Chỉ Huy Phó Cảnh Sát 
Tỉnh DARLAC đặc Trách Hành Quân

Ngày 1-3-1975 
-"Thiếu Uý Đức đâu ?" Tôi vừa bước vào doanh trại Trung Đội CSDC quận Buôn Hộ, DARLAC vừa hỏi vợ Thiếu Uý Đức đang ngồi cho con bú trong phòng . 
-"Anh ấy dẫn trung đội vô rừng tìm thằng Ngạn bị Việt Cộng bắt hôm qua rồi . Đại Uý ơi , em giữ không được, em nói là đợi Đại Uý xuống nhưng anh ấy cú đi". 
Tôi thở dài, ngồi bịch xuống ghế, buồn và bực ."Lên Chi Khu hỏi xem hành quân ở đâu mới được!" Tôi nghĩ và bảo tài xế cùng hai cận vệ lái xe đưa tôi lên chi khu "Cách đường cái 6 cây số sâu trong rừng" . Trưởng ban 3 Chi Khu Buôn Hô cho tôi biết nhu thế . Không còn cách nào khác hơn, tôi cùng Quỳ tài xế và Khương, Tiến hai cận vệ cũng là trưởng ban 1, ban 2 DĐ 206CSDC đi kiếm chỗ ăn cơm . Lúc ấy là 1 giờ trưa, trời bắt đầu cơn mưa nặng hạt của vùng Tây Nguyên, Khí hậu còn phảng phất gió bấc của ngày Tết . Tôi đang cầm ly bia vội buông xuống vỡ tan: thằng Hiên, tiểu đội trưởng chùm "pông sô" từ đầu đến chân đứng ở cửa nhìn tôi; linh tính của một người đã đi hành quân nhiều lần báo cho biết có điềm không lành . 
-"Trình Đại Uý, Thiếu Uý Đức, Thượng Sĩ Mầu bị thương nặng, hai nhân viên tử thương!" 
Hiên nói cộc lốc và ngừng lại . Tôi đứng lên nhìn nó trừng trừng gằn từng tiếng:"Anh nói rõ tôi nghe". 
-Thưa Đại Uý, Trung Đội bị phục kích chỉ cách 10 mét, không kịp phản ứng nên bị thiệt hại, địch bắn như mưa . Em cũng trình luôn là mình đụng với Chính Quy ! 
-"Anh nói Trung Đội CSDC Buôn Hô đụng với Chính Quy hả ? Anh chỉ báo cáo láo . Quân anh đánh dở thì chịu dở, còn nói là đụng Chính Quy". 
Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng tiểu khu Darlac quạt tôi sau khi tôi thuyết trình về kết quả ghi nhận được liên quan đến tình hình địch tại Buôn Hô, một quận phía Bắc Ban Mê Thuột gồm 9 xã trong đó có một xã Kinh là Hà Lan ABC . 
-"Đại Tá muốn nghĩ sao thì nghĩ, tôi chỉ có nhiệm vụ tường trình"/ 
Ngồi uống bia với Thưông Sĩ Quỳ, tài xế của tôi, nhìn ly bia có cục đá trong suốt, nghe tiếng đá cục đập vào nhau kêu lách cách mỗi lúc cầm lên uống một hớp và đặt xuống bàn, tôi lại nhớ đến Thiêu Uý Đức . Nghĩ cũng buồn , mình đã phải điều 2 Trung Đội Nghĩa Quân thuộc Buôn Hô, một Đại Đội Thám Sát Đặc Biệt tỉnh do Đại Uý Y Jie B Ya chỉ huy, 3 Trung Đội CSDC lên đồi tại một vùng chi khu Buôn Hô chỉ để mong cứu Thiếu Uý Đức và Thượng Sĩ Mầu, tụi nó bảo là còn sống chưa chêt mà, lên lúc 6 giờ chiều, Việt Cộng pháo cho một chập phải lui xuống . Cũng tại thằng Lâm chỉ sai đồi, tao mới phải lui, may không có đứa nào chết thảm . Đêm về phải xin Đại Bàng (Trung Tá Trần Quang Vĩnh, chỉ huy trưởng Cảnh Sát Darlac) thêm 2 trung đội CSDC, một đại đội Địa Phương Quân . 
Mới mở mắt ra ở quận lỵ, đã có người báo "Việt Cộng mời Đại Uý Tuấn lên lấy 4 xác cảnh sát". 
-"Chết bỏ!" Đó là câu bùa của tôi mỗi khi chuẩn bị đi đánh Việt Cộng . " Tao chấp nhận đổi thêm 10 thằng nữa để lấy xác Thiếu Uý Đức và ba thằng con chứ không để kên kên nó ăn thịt". Nói với lính như thế để tụi nó khỏi run . Tôi biết là tí nữa sẽ căng vì địch đang đợi tôi và quân lên . Sau khi họp với Trung Uý Lại DĐP/CSDC , Đại Uý Y Jie B Ya CHT/Thám Sát, hai trung đội trưởng Nghĩa Quân, tôi quyết định đánh vòng, dùng pháo binh của chi khu Buôn Hô yểm trợ và mở một đường cho Việt Cộng chay.Bịt chặt nó, thì hao quân mà lâu nữa . 
-"Đại Bàng Tango phải không ? Thiếu Uý Hồng đây, em là pháo đội trưởng của TD/Pháo SĐ23 tăng cường tại Buôn Hô đây . Trời ơi! tưởng ai, Đại Bàng thi... líp " 
Tiếng Hồng e é trong ống loa PRC 25. Tôi cười mỉm và nói :"Dành cho tôi bao nhiêu quả? 100 nhé, OK ?" 

Lên từ 8 giờ sáng, vòng ngang và bọc vào . Hai trung đội Nghĩa Quân làm đe và trừ bị. Tôi dẫn CSDC và TSĐB (PRU) và một ĐĐ/ĐPQ vào . Pháo đánh và đập liên tục ngay mục tiêu, thế mà mãi tới 4 giờ chiều mới thấy chúng nó . " Đức ơi sao mày nặng thế ? Có linh thiêng thì nhẹ bớt lại cho lính khiêng" 
Bốn thằng nằm 4 chỗ, giầy thì "anh hai" lột hết, đồng hồ cũng mất tiêu luôn . Thương quá vì chưa bao giờ thua cộng sản . Tôi chuyên môn cho lính đi phục kích Việt cộng mà bây giờ để chết lính . " Đức ơi, mày ngu quá, Trương Phi chết vì muốn cứu Kinh Châu trả thù cho Quan Công, lính mà không thông binh pháp làm sao ăn được tụi nó . Bây giờ vợ con mày ai nuôi đây! Thôi tao uống cho mầy một chai nữa, tao về ngủ đây . Mày có nghe thấy không ? Đại Tá bảo tao báo cáo láo, ổng nói tình hình Darlac trăm phần trăm ngon lành khi không lại nói có...Chính Quy ! 

Ngày 9-3-1975 
9 giờ sáng tôi và Trung Tá Vĩnh Chỉ Huy trưởng CSDC Darlac ra phi trường L.19 đón Tướng Phú, Tướng Tư Lệnh vùng ỊI . Ra đến nơi đã thấy Đại Tá Luật, Trung Tá Thành, Tiểu Khu Phó, các trưởng phòng thuộc tiểu khu có mặt . Tướng Phú xuống phi cơ, tôi thấy ông có vẻ gầy chứ không to cao và béo như Tướng Toàn . 
Lại lục tục nối đuôi nhau chạy về trung tâm Hành Chánh quân tiểu khu họp . 
-"Tôi là trung ương của vùng II là cái rốn , nêu nó đánh anh, tôi cho quân cứu chứ nếu tôi chuyển Su Đoàn 23 bộ binh về đây, nó đánh Pleiku, làm sao anh có phương tiện chuyển quân lên cứu tôi . Tôi quyết định giữ Sư Đoàn 23 lại Pleiku" 
Tướng Phú đã phát biểu nhu vậy sau khi nghe Đại Tá Luật trình bầy rằng địch kéo quân về phía đường mòn **** khoảng 200 Molotova, nghi ngờ tụ quân 20 cây số Bắc Xã Quảng Nhiêu, Đại Tá Luật xin Tướng Phú đưa một hoặc hai trung đoàn thuộc SD 23 về Ban Mê Thuột vì hiện chỉ có 9 trung đội Nghiã Quân, một nửa đội Trinh Sát, 20 Lôi Hổ thuộc chiến đoàn 3 Xung Kích, một trung đội CSDC, một tiểu đoàn 224 DPQ để giữ thị xã Ban Mê Thuột . 
11 giờ, tôi và Trung Tá Vĩnh về BCH/CSDC Darlac tập họp các cấp chỉ huy:"Các anh nên đưa vợ con về Saigon để dễ dàng chiến đấu . Việt Cộng sắp đánh thị xã, có thể là ngày mốt 11 tháng 3. Đêm nay Đại Uý Tuấn chỉ huy ty mới về cho báo động". 

Đưa vợ con đi đâu được! 
Ở Air Viet Nam nguời đông như kiến, tôi bảo vợ tôi ngồi xe đợi và vào trong hỏi Nguyệt :"Anh Hội đâu", "không thấy", Nguyệt đáp . Thế là anh Hội cũng trốn rồi vì ở cái thành phố Buồn Muôn Thuở này ai mà không quen nhau. 
Về đến nhà, vợ tôi hí hửng vì không phải về Đà Lạt với mẹ . Con tôi thì cũng vỗ tay, lấy cái bê rê đội lên đầu, đeo kính của tôi và giơ tay "Chào Đại Uý" 
12 giở 30, tôi được Y Hoc Eban báo cho biết địch đã về đến Ea Hneh, vợ nó đi rẫy gặp Việt Cộng đang giăng giây điện thoại . Phone cho Đại Tá Luật biết gấp và xin trấn núi Châu Sơn làm thế ỷ dốc . Ăn cơm trưa xong, chạy xe vội qua ty CSDC ở đường Tự Do kiểm soát và phổ biến cho toàn thể nhân viên, tôi mệt nhoài vội vào phòng ngủ đánh một giấc. 
-"Thưa Đại Uý, Đại Tá tỉnh trưởng đến", thằng truyền tin báo tôi biết . 
-"Anh cho tôi xem qua hệ thống phòng thủ một chút" Đại Tá Luật cùng đoàn tuỳ tùng đi xem quanh trại giống như đi thanh tra . Tôi đi theo và hướng dẫn cách phòng thủ. "Tôi báo cho anh biết, doanh trại CSQG tôi sẽ dùng làm địa điểm thứ hai, nếu Tiểu Khu mất, anh nhớ nhé . Còn Thiếu Tá Trọng(Quận trưởng BMT)đêm nay điều đại đội ĐPQ cơ động của quận lên đóng trên đồi Châu Sơn , Tiểu Khu chỉ còn Tiểu Đoàn 224 thì đã phải trấn tại mặt Nam đồi La San, một đại đội tại tiểu khu, và một tại vườn ông Tôn Thất Niệm" . 
Quay sang Thiếu Tá Song, Tiểu đoàn trưởng Pháo Binh, Đại Tá Luật tiếp :"Bắt đầu 8 giờ tối nay anh cho gà con mổ khoảng 20 bắc Châu Sơn nhé . Địch đã xuất hiện rồi". 

8 giờ tối, lùa nốt miếng cơm cuối cùng, tôi đứng lên mặc áo . "Ăn dessert đã anh" Vợ tôi nói. "Bố đi hả bố?" Thằng Cuky con tôi mới hơn hai tuổi, nhưng nó không bao giờ đòi đi theo tôi khi nó thấy tôi mặc đồ rằn ri và đeo súng cả . Tôi cúi xuống hôn con, hôn vợ "Anh đi qua ty, anh dặn em lại là nếu có gì, em, bố và con chạy ra nhà ông bà Chí Thành nhé, mai anh về" Chẳng bao giờ có ngày mai cả, vì từ ngày đó đến nay tôi không còn thấy nàng và con nữa!!!
-"Oành ! Oành !" Tôi bật dậy, Khương ngủ cạnh tôi lắp bắp "Nó đánh, Đại Uý". Tôi bảo Tiểu Ban Đại Đội: "Báo động và đi kiểm soát, địch pháo". Quả pháo đầu tiên vào phi trường L19 lúc 3 giờ 20 sáng, 10 tháng 3-75, cách tôi khoảng 200 mét. Ra ngoài tôi thấy thành phố nhu rực lửa, không phải vì cháy mà vì địch pháo quá nhiều. Lính tráng nằm hết ở hố cá nhân. Hà! Thế mà tốt, nhờ hỏi tân binh Phước Long nên tôi đã thực hiện mỗi người một hố éch nhỏ xíu. Cho mày pháo đến mai. 
5 giờ sáng, tôi dùng PRC 25 liên lạc với thằng PRU trấn phía Bắc L19. Quyền , chỉ huy phó báo cáo hai cánh quân ở phía Bắc mà nó tung ra ngoài từ đêm qua theo lệnh tôi đã phải lui vào, đụng mạnh quá chịu không nổi, 30 thằng còn có 6 thằng chạy vô, bây giờ nó trấn hai hầm. Tôi cho Quyền biết là đang xin Tiểu Khu điều ĐĐ1/224 do Đại Uý Hải chỉ huy vào phi trường L19 bắt tay với nó, đừng lo. Ngay lúc đó tôi liên lạc được với Hải, Hải cười trong máy và hỏi tôi ở đâu để nó bắt tay. "Tao ở Bóng Chim Hồng, thằng sắp bắt tay mày là thằng con tao, Tư Tuởng, Sơn Tây, Tư Tưởng (Thám Sát Tỉnh) mày làm cho ngon nghe Hải". 
Mới ngừng mấy phút châm điếu thuốc trong hầm, cầm máy liên lạc lại với thằng 224 thì nó câm. Đổi qua giải toả cũng câm luôn. "Lê Lai" với thằng Quyền PRU thì nó nói, giọng nhẹ chút xíu và nghe yếu xìu: "Chưa thấy, Đại Bàng, tụi Vịt Con đã vô em rồi, nó đang đốt phá ầm ầm". Hỏi tình hình của nó Quyền cho biết , nó còn 12 con, 6 bị thương, 6 lành, hiện đang thủ hai hầm vì địch tràn vô L19 rồi. Tôi "lê lai" với Trung Tá Vĩnh xin lệnh:"Cho nó tự ý hành động". Tôi lập lại lệnh của ông Vĩnh cho Quyền. 

6 giờ sáng, đang liên lạc với các toán thì được Cuộc CSQG xã Lan Giao(thị xã) báo cáo : "Có địch xuất hiện trong phố, từng toán 5, 10 tên, mặc đồ lính, chân không, bảng tên trắng". Cầm cái máy FM5 liên lạc với cao tốc 01 đến 10, tất cả đều câm hết. Đang cầu nhầu với thằng lính truyền tin về vụ máy móc dởm quá thì tôi giật mình khi nghe mấy tiếng AK ngay cổng Đại Đội 206. Nhìn qua cửa hầm, tôi thấy thằng Khoái CSDC trung đội Buôn Hô đang rớt từ hàng rào. Một tên nữa (Thiếu Uý Tâm) nằm trước cổng. Thằng Hùng vội nhẩy xuống hố nhưng hình như không kịp nữa. Tôi bảo Trung Uý Lai cho hai quân ra trám chỗ. Thằng Tiến chạy vô " Thưa Đại Uý, việt cộng ở nhà Hướng Đạo bắn ra" "Tao biết rồi, để nó đó tính sau, để tao lo xong cái thằng PRU đã." Tôi cầu nhầu và tiếp tục gọi thằng Hải 224, Im lặng! Hỏng rồi!Địch mà chiếm L19 là thành phố mất. Tôi gọi Tiểu Khu báo cáo và xin hỏi thêm về thằng Hải. Tiểu Khu nói nó cũng không thây Hái đâu cả. Tôi vội xin gà cồ gáy vào L19 để chận địch. Gà mình lại mổ tới tấp vào L19. Ngay lúc đó 3 chiếc trực thăng đầy lính vọt lên không ngang đầu tôi. Tụi Vịt Con bắn theo đỏ trời. Thoát được 2 cái, 1 cái rơi ngay đồi phía sau. 
-"Alô Đại Bàng xin Tiểu Khu xin Nha Trang yểm trộ phi tuần đánh bom đừng để mất L19" Tôi gọi Trung Tá Vĩnh. Ông Vĩnh nói:"Yoa yên tâm, tôi sắp qua gặp Đại Tá đây, còn vợ con toa và gia đình moa đã cho ra ngoài hết rồi, cứ bình tĩnh" 

Dùng M79 và M60 diệt xong 3 thăng ở nhà Hướng Đạo, tôi thấy mệt nhoài. Mới 9 giờ sáng, phát lương khô cho lính ăn và thêm trái sáng để chuẩn bị đón Vịt Con đêm nay. Nó vẫn pháo như mưa. Cả ba thằng của tôi đều chết, 3 thằng Vịt con thường mạng. 
11 giờ trưa, Trung Tá Vĩnh bảo tôi là Đại Tá Luật chỉ thị CSDC ra đóng Biệt Điện. " Ông ấy có điên không? Ở đây còn nhìn thấy nó lấp ló, dẫn quân đi một cây rưỡi dọc L19 để đến bùng binh, may lắm còn mình tôi. Địch đang thiếu bia tập bắn" tôi nói. Ông Vĩnh:" Tuỳ toa, moa cũng từ chối rồi" 
11 giờ 30, địch ngớt pháo, nó cũng đói bụng, tôi nhủ thầm. 
-"Thưa Đại Uý, từ nẫy đến giờ, tiểu khu im lặng, em gọi mãi không được". Thằng Tồn truyền tin báo cáo. Tôi gọi lại Trung Tá Vĩnh, ông cũng xác nhận như thế. Mất rồi chăng? 
12 giờ 30, Cọp tới. Qua ống nhòm tôi thấy Biệt Động Quân từ phía chùa Dược Sư đi sau lưng trái tôi, tôi báo cáo nhưng ông Vĩnh nói "Việt Cộng đó, quân ta không tới đâu" Tôi ra lệnh Bộ chỉ huy Cảnh sát chuẩn bị tấn công, thằng Minh M79 khai hoả. Cao đánh thấp, thủ đánh công, không chột cũng què, tôi nghĩ. Minh bắn nhưng không thấy nổ. Bịch ! cầm lên, viên đạn M79 đụng nóc garage chẻ làm đôi Tôi hay tin dị đoan, nói với lính " Thằng nào hy sinh ra, nếu là cọp thì vô cho tao biết, còn là nó thì 'mo'." Quỳ tài xế nai nịt nhảy 10 mét hàng rào ra. 
-"Thưa Đại Uý, Cọp chính cống, em gặp Thiếu Tá Bảo, tiểu đoàn trưởng 1/21 rồi, danh hiệu đài đây" 
Tôi thở phào, suýt nữa thì đánh nhau mệt nghỉ vì lầm. 
14 giờ 30: Trung Tá Vĩnh cho biết: 2 tăng T 54 tấn công ty cũ (trung tâm Hành Quân Cảnh Lực) Ông nói đã bắn hết 8 M72 nhưng không hiệu quả, ông rút và trao quyền chỉ huy cho tôi. Tôi hỏi tình hình và xin lệnh sau cùng:"Tuỳ nghi xử trí" 
Thế là hết, chưa bao giờ như thế cả! Đã chán thì chớ, bên Thiếu Tá Thành , chỉ huy phó CSQG Hành Chánh gọi tôi qua họp với bộ tham mựu 
Bước chân vào hầm, mọi người đề nghị rút :"Đ.M.! Địch chưa đánh mà rút đi đâu ?". Ông Thành nói: "Tỉnh đã mất hết, mình cứ rút ra ngoài rồi trụ lại chứ đêm nay nó đánh bằng tổng lực chịu sao nổi !" 13 sĩ quan nhao nhao đòi rút . 
16 giờ 30 : Vịt Con bắt đầu đánh bằng pháo và đại liên . Vỡ quân ! Cảnh sát bên ty chạy ùa qua bên doanh trại đại đội, sợ quá mà vỡ quân . Dã chiến đoạn hậu, ra ngoài chùa Dược Sư đã . Cọp thì ở trung học Tổng Hợp rồi . 

6 giờ chiều đi ngang Buôn Koier, tôi gặp Trung Uý Xuân, trưởng phòng 2 tiểu khu, Đại Uý Chương ANQĐ, lại thằng Hải nũa chứ . Nó nói" Tao đụng một dàn B40, tụi nó nằm sẵn trong L19 . Đại đội còn có 46 thằng . Sao giờ này mày mới ra ? Tiểu khu bị 5 chiếc . T54 đánh lúc 11 giờ 30 . Tụi nó bắn 52 quả M72 hạ được 4 chiếc, chiếc sau cùng đứt xích thì mình hết đạn . Nó dùng đại bác 100 ly phơ sập hết . Đáng lẽ minh chưa "out" Nhưng có thằng A 37 khỉ gió thay vì bỏ bom con cua Việt Cộng, lại nhè cho hầm trung tâm hành quân một quả 250 cân, thế là "mo" . Tụi mình còn một ít chạy hết trọi" 
-"Đại Tá Luật chết trong đó hả ?" Tôi hỏi . 
-"Sức mấy, ông tỉnh chắc ăn, nên lúc gần sáng ổng phóng từ tư thất qua bộ Tư Lệnh SD 23 (lúc đó chỉ có hậu cứ) thay vì qua tiểu khu . Bây giờ ổng còn ở trỏng " 
Hải xin tôi một bản đồ và một địa bàn vì nó vứt lúc bị phục kích trong L 19 rồi . Tôi lấy của Trung Uý Lai đưa nó xài đỡ . 
Đêm 10-3-75, tôi và Hải đóng trong chùa Dược Sư cùng với một ít dân chúng đã chạy ra lúc chiều 

Ban đêm, nằm trên các tảng đá quanh chùa Dược Sư hút thuốc nhìn lên bầu trời . Sao đêm đó tôi thấy nhiều vì sao chạy thế nhỉ! Tôi nhớ ngày xưa người ta thường nói mỗi khi có người chết là một vì sao bản mệnh của người đó tan đi . Tôi nhớ đến vợ con, không biết đang chạy ở đâu trong vùng khói lửa của đạn thù! Tôi nhớ đến Tết Mậu Thân, Việt Cộng đã chôn sống 10 ngàn Quân Cán Chính VNCH . Thôi không nghĩ nữa, nghĩ nữa sẽ xụm không thể cầm quân được . 
Quanh tôi lúc này là những chiến sĩ Cảnh Sát đang trông vào tôi để hy vọng, để chiến đấu mong đẩy được tụi nó, tụi Việt Cộng ra, 11 giờ đêm, mà mọi người, già trẻ, lớn bé chưa ai ngủ . Người nào quần áo cũng xốc xếch, có cô còn mặc áo ngủ, có người vừa ôm con vừa ôm vợ, vừa cầm cây carbin M1 với một băng đạn . Tôi dụi thuốc và nhắm mắt nghỉ ngơi một chút . 

9 giờ sáng 11-3-75; tôi kéo đại binh cảnh sát khoảng 300 nhân viên vào nhà thờ Phú Long đóng quân . Trung Uý Lại trách nhiệm chỉ huy 50 CSDC phòng thủ quanh tường nhà thờ . Tôi nhìn quanh, chỉ chịu đựng đưọc một giờ nếu địch có trọng pháo yểm trợ . 
Gặp cha Diệu, cha xứ Phú Long :"Mời Đại Uý dùng cơm" Cha Diệu bảo tôi . "Cảm ơn cha, con không đói, có lẽ con vào Bộ chỉ huy TT Huấn Luyện Trung đoàn 45 đóng quân" Tôi đáp . Tôi ra ngoài nói Tôn truyền tin mở tần số ra liên lạc, gần một giờ sau mới bắt được tần số ."OK cho vào trú quân nhưng toa nhớ điểm từng người,nếu không Ve Chai nó trà trộn vô " Trung Tá Phùng lên tiếng trên máy . 
12 giờ 30 trưa, tôi dẫn quân vào Trung tâm giao tuyến giữa cho Thiếu Tá Lê Văn Hoan, Trưỏng F Đặc Biệt cùng 200 CSDB và CSSP . Thiếu Tá Thành chỉ huy phó hành chánh ở hầm trung ương . Tôi cùng 50 CSDC, 5 quân cảnh( tôi lụm được dọc đường), thủ tuyến A . Tôi hỏi một chuẩn uý, cán bộ Trung Tâm về quân số, được biết chỉ có 100 khoá sinh . Tôi xin lại thùng lụu đạn ra phân phát cho các hầm . Sờ vào nắp hầm, chà!! mỏng quá, tôi nghĩ chỉ chịu nổi 82 ly thôi . Chết, bỏ vậy!! 
3 giờ 30, một quả pháo đầu tiên rớt vào sân Trung Tâm, rổi tiếp đó bắt đầu như mưa . Qua ống nhòm tôi thấy một tên để lộ. VC mặc đồ lính chạy loanh quanh trong khụ nhà dân cách tôi khoảng 300 mét . "Minh đâu rồi! Minh M79 nhắm bắn cho tao coi mày ?" - Thưa Đại Bàng, thằng này khôn quá, nó né hoài, em bắn không được" 
Nhìn ra đường QL1 dọc cổng Trung tâm bên trái tôi, vắng hoe . 
Địch pháo liên tục . Oành! Đại uý Đoàn chủ sự phòng hành quân bị thương . Hai nhân viên khiêng Đoàn vào bệnh xá trong mưa pháo . Tôi vỗ vai Tôn, truyền tin cười nói: Đừng nghĩ gì nũa, đây là đất cuối cùng của thầy trò mình, hãy bình tĩnh . 
6 giờ chiều, khẩu pháo 105 và xe đạn của trung tâm trúng đạn . Mưa pháo nở giống như pháo đùng ngày Tết . "Hồng Hà 8! Trung Tâm rút ngõ sau rồi!" Tiếng Hoan rè rè trong máy . Tôi đáp "8 nghe rồi" Ngay lúc đó tôi thấy Cọp của Thiếu tá Bảo, một rồi cả trăm . Họ nằm bẹp trước mắt tôi vì pháo . Tôi nhìn Bảo lúc đó còn đeo Ray-Ban gọng vàng . Ra dấu hỏi, Bảo lắc đầu . Cọp bắt đầu di chuyển ngang tôi ra phía mặt sau Trung tâm và tụ quân trên các tường sân bắn . Cọp lì thiệt, giờ này mà nấu cơm . 
6 giờ 30 chiều, trời sụp tối, Hoan chạy ra gặp tôi: "Nó vọt hết rồi, bộ mày tính thủ một mặt, Cọp một mặt, còn bỏ lủng hai mặt hả Tuấn ?' Tôi ậm ừ "Ông vào gặp Ông Thành coi sao" Hoan nói Thiếu tá Thành đã vọt rồi . Suy nghĩ một lúc, tôi quyết định rút khỏi Trung tâm vì rộng quá, mà mình chiếm có một mặt, đêm nó giám uýnh lắm . Nhưng đi đâu đây ? Tôi cho quân rút ra xưởng cưa Công Binh cách Trung Tâm Huấn luyện TD 45 khoảng 200 mét 
9 giờ đêm tối, Đại uý Xuận trưởng phòng 2 tiểu khu, Trung uý Liên quân cảnh, Thiếu Tá Hoan CSDB họp và quyết định di quân về quận Phưóc An cách thị xã 32 Km về hướng Nha Trang . 
Trong lúc này ở phía phi trường Phụng Dực, chi khu Ban Mê Thuột rền súng và lửa . 
Trên đường di chuyển đêm theo QL1, tôi gặp hàng hàng lớp lớp dân chạy giặc . 

Ngày 12/3/75: 
7 giờ sáng, tại Phưóc An . Ô hô!! xe cộ và dân chúng đầy đường! Thiếu uý Lân,(Trung đội trưởng CSDC Phưóc An) và Trung Uý Liệu chỉ huy trưởng cảnh sát ra trình diện tôi cho biết Thiếu tá Hoàng Đình Tập, quận trưởng Phưóc An quyết định lui binh, chạy . Tôi hỏi ông Liệu : Ai cho lệnh chạy ? Liệu lắc đầu đưa hai tay lên trời . 
8 giờ sáng, tôi gặp Đại Uý Ba, chỉ huy trưởng CSQG Buôn Hô, "Địch đêm qua tiền pháo, hậu xung, ta chết khoảng 1/2, mở đường máu chạy băng 30 Km rừng sang Phước An" 
8 giờ 30 tôi gặp Thiếu tá Trọng, Quận trưởng Ban Mê Thuột cùng Thiếu uý Đức CSDC:"Đêm qua địch sáp lá cà, chi khu vỡ, còn sống duy nhất 13 CSDC và quận trưởng sau khi đột phá vòng vây ra Buôn Kô Tam" 
12 giờ đại binh không đầu chạy bộ, chạy xe từ cây số 32 Phưóc An đến 62 M'Rong Hô định về Nha Trang thì ngừng lại, một phần để nghỉ, một phần vì địch chận tại cây số 72 . Tôi hỏi tình hình, địch đóng chốt kiềng một trung đoàn . 

Ngày 14/3/75 
12 giờ trưa Trung tá Thạnh, tiểu khu phó, mặc áo may ộ xà lõn chạy xe Jeep lùn từ đồi 62 xuống và ra lệnh " Tất cả về Phước An để tái chiếm Ban Mê Thuột . Vui quá vì lại gặp vợ con . Quân lính đâu chuẩn bị . Tôi kéo quân về Phước An lúc 6 giờ chiều, nghỉ tại ngã ba ban đêm . 
Sáng 15/3/75, lúc 7 giờ di chuyển 2 km vô chi khu . 

10 giờ chi khu mời họp . 
"Báo cáo Đại tá, tôi hiện có 300 quân Cảnh Sát, vũ khí đầy đủ, gồm 120 CSDC, khoảng 100 CSDB, còn lại là CSSP" Tôi trình diện Dại tá Tiếu, người vừa được Quân Đoàn II đưa xuống thay Đại tá Luật mất tích . Các quân binh chủng lần lượt báo cáo quân số . Đại uý Hải tặng tôi một bộ bản đồ, tỉ lệ 1/100000 có Nha Trang, Hải nói để đền ơn tôi đã tặng bản đồ hôm trước . Cũng nhờ bộ bản đồ này mà tôi mới đi được tới Khánh Dương sau này . 
Đại tá Tiếu cho biết sẽ tử thủ ở Phước An, đợi quân cứu viện, địch đến là đánh . Tôi được cắt trú quân tại chợ Phước An làm thế ỷ dốc cho chi khu . Tôi về chia quân làm 16 chốt vòng tròn rộng 150 m, mìn Claymore cài lung tung . 

-Sáng 16/3/75: Tại đất trống trước chi khu tấp nập trực thăng lên xuống, chở người đi, đến Vùng ỊI . CSQG Nha Trang cử lên 3 ông để thanh tra, uỷ lạo . Tội nghiệp Thiếu tá Lê Văn Diệu trưởng E, yểm trợ vùng cũng lót tót lên mong gặp vợ con . Ai có vợ con đều được ưu tiên cho đi Nha Trang bằng trực thăng . Vợ con tôi đâu ? Sao không chạy ra nhỉ ? Cũng tại tôi đã nói với vợ là cứ an tâm, ta không thua đâu . 

-Sáng ngày 17/3/75: 7 giờ sáng Trung uý Lai, Thiếu tá Thành xin ra ngoài ngã ba, kiếm và thăm vợ cọn . OK! Nhưng về sớm nghe các ông . 
Ngay sau đó, khoảng 15 phút, tôi thấy tiếng súng lớn nổ rền vang ngoài ngã ba Phưóc An, kèm theo tiếng súng nhỏ . Khoảng 1 giờ sau, Thiếu tá Thành chạy vào báo cho tôi biết . Tăng Việt Cộng đến nơi . Vào chi khu thôi vậy . Thiếu tá Thọ mời tôi vào họp . Tôi bảo ông Thành vô, vì tôi không thể rời quân lúc này, mà rời thì quân tan ngay . Thiếu tá Thành nói: Đại tá Tiếu chỉ thị cho CSDC vào chi khu tử thủ ngay lập tức, ông cũng cho biết bộ chỉ huy Tiểu khu và Chi khu đã rút chạy ngõ hậu .Thiếu tá Thọ phía hai pháo 105 ly . 
Đã 7 năm lính, tôi đâu có khờ để mà làm chốt cho hai ông quan . Tôi ra lệnh quân rút theo đường rừng ra Buôn Phê ở cây số 42, dừng chân nghỉ trong môt vựờn chuối lúc 1 giờ trưa . Đến cây số 62 lúc 7 giờ tối 17/3/75 . Lại kéo quân lên chiếm đồi 62 lần thứ hai . 
-"Hưng, mày đó hả ?" Tôi gọi PRC cho Hưng, Thiếu tá TĐT DPQ M'Rong Ho(Chư Kuk) . "Tao đây, cần gì không ?" Nghe tiếng Hưng, tôi mừng quá . Tôi được biết bộ chỉ huy Chi Khu và tiểu khu nằm ở Chư Kuk đầy đủ cả . 
Đứng trên đồi nhìn dân Ban Mê Thuột chạy ra, họ đốt lửa trên quốc lộ vòng vèo như con rồng lửa dài khoảng 2 km . Buồn quá, tái chiếm cái gì kỳ quá! Thua đơn giản quá! Dù đâu ? Biệt Cách đâu ? TQLC đâu ? Sao Saigon không gửi lên ? Vợ con đâu ? Nuôi 3 năm, dùng 1 ngày không lẽ tôi đào ngũ, trà trộn với dân ? Không được, cả tỉnh trông vào mình , một súng không đủ, 1000 súng sẽ mạnh . 

-Ngày 18/3/75 
Tôi xuống dưới đường gặp một vài lính SD 23 cầm M16. Họ nói là thuộc trung đoàn 44 trực thăng vận về cứu Ban Mê Thuột (?) Không gặp cấp chỉ huy (?) Đi lang thang . 
7 giờ tối, tôi liên lạc Hưng . Thiếu tá Hưng cười trong máy khi tôi xin mua dùm gạo "Gạo cái gì mày! Có ăn bò thì lên tao cho vài con ăn chơi, gạo thì mậu, tao báo cho mày biết sáng mai tao "gô" Nha Trang đây . Tiểu đoàn gì mà còn có 17 lính Kinh, 42 lính Thượng . Tụi Tiểu khu vù hết về Nha Trang hồi chiều bằng trực thăng rồi mày ơi! Tại đây còn có mỗi tao và mày là còn súng còn đơn vị đó, có đi thì đi đi" 
8 giờ tối, tôi tập họp các sĩ quan tham mưu của CSDC Darlac lại trong căn lều chì huy . Đi thôi các bạn ơi, 10 ngày không có quân lên cứu . Về hướng đi rừng 

-Sáng 19/3/75 
8 giờ sáng, trời Tây Nguyên còn mù sương núi, đứng trên đồi cao nhìn lại Ban Mê Thuột . Vĩnh biệt em và con yêu dấu !. Vĩnh biệt thành phố buồn ! 
Trung uý Lai đưa cho vợ và 3 con 50 ngàn đồng "Em ở lại, anh đi theo Đại uý" Nhiều nhiều nữa . Tăng đến cây số 52 nhìn thấy rồi, đánh không nổi đâu vì có ai đâu mà đánh, quân không đầu, cầm PRC 25 gọi khản cổ, vặn đủ tần số . Không có là không . 
8 giờ 30, tôi đi đầu đưa 300 quân và 1500 dân chui vào rừng Chu Prong trực chỉ Khánh Dương . 
Vĩnh biệt Tây Nguyên! Vĩnh biệt núi rừng! Vĩnh biệt người thân! 


GHI THÊM CỦA NGƯỜI VIẾT 


Sụ viết này đưọc viết bằng sự mắt thấy tai nghe cũng như bằng sự hạn chế của một người sĩ quan trẻ . Qua một số chiến hữu kể lại, tôi được biết Chiến Đoàn 3 Xung Kích (Lôi Hổ Vùng II) gồm 20 quân đã chiến đấu trong bộ Chỉ huy của họ cho đến khi biết rằng không có quân cứu viện . Một số ĐPQ, Nghĩa quân đã cùng cha xứ Châu Son(2 km bắc thị xã BMT) chiến đấu được 3 ngày cho đến lúc Việt Cộng phải dùng pháo và tăng đánh . 40 PRU đã mất tích tại Quảng Đức . Một đại đội thuộc Trinh Sát Sư đoàn 23 đã chiến đấu 3 ngày ở Phụng Dực (phi trường chính cách BMT 6 km) v...v... 

Và còn nhiều nhiều, rất nhiều người đã ngã xuống, đã bắn địch đến viên đạn cuối cùng để bảo vệ tự do . Tôi rất cảm phục sự hy sinh vô bờ bến của họ . Chúng tôi chỉ muốn hỏi các ông Tướng : Tại sao không đưa quân lên tái chiếm Ban Mê Thuột trong lúc địch chỉ có 45 tăng T54, hai sư đoàn bộ binh, trong đó SD32 Thép chỉ còn tên chứ lính thì toàn mới . SD 316 Thiếu Nhi, nòng cốt chỉ có Trung đoàn 968 Đặc Công!! Vậy mà để sau đó hàng chục ngàn sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ đã phải rên xiết trong ngục tù khổ sai của Cộng sản trong suốt 10 năm qua . Hàng ngàn chiến sĩ đã chết trong ngục tù vì đói, lạnh, kiệt sức, bệnh tật (80% do kiết lỵ) hàng vạn con cái chiến sĩ đã phải đi bán xổ số, nhặt bao nylon bẩn, nhặt giấy vụn dù tuổi chưa được lên mười . 
Tôi nhớ trong kẻ sĩ của Nguyễn Công Trứ có câu: 


"Trong lăng miếu ra tài lương đống 
Ngoài biên thuỳ rạch mũi can tương 
Làm sao cho bách thế luu danh 
Trưóc là sĩ sau là khanh tướng 
Kinh luân khởi tâm thượng 
Binh giáp tàng hung trung 
Vũ trụ chi gian giai phận sự 
Nam nhi đáo thử thị hào hùng " 

Tiếc thay! tài hèn sức mọn, quân không đồng lòng rồi còn cái gì nữa nhỉ! Bây giờ treo cờ VNCH cũng phải xin phép . Bao giờ thì cờ vàng ba sọc đỏ lại tung bay ở Việt Nam yêu dấu . 10 năm rồi đó các ông Tướng ơi! 

Nguyễn Ngọc Tuấn 
Nguyên Đại Đội Trưởng CSDC 
Kiêm Chỉ Huy Phó Hành Quân BCH/CSQG Darlac


 Hội ngộ Tù Phong Quang, anh Tuấn đứng cuối cùng

Monday, April 1, 2024

Tháng 3-1975 Huế Đà Nẵng - Mai Chu

  Từ Huế vào tới phi trường Đà Nẳng gần trưa 24-3-1975, điều đầu tiên, Tôi kiếm điện thoại liên lạc với người em trai tên Chu Hạ đang phục vụ trong ngành truyền tin thuộc tổng đài Khánh Vân, Sư Đoàn 1 Không Quân VNCH.

Sau đó, liên lạc với THVN9 Sài Gòn.
Xếp lớn TT LV Hoà chỉ thị Tôi lấy vé Air VN để Thu Hình Viên Nguyễn Văn Đông bay về Sài Gòn trước.
Còn Tôi phải ở lại đón phái đoàn cấp trưởng khối đại diện Bộ Dân Vận đem tiền từ trung ương ra cứu trợ gia đình Dân Vận Thông Tin vùng 1, ngày 27-3-1975.
Đồng thời, bằng mọi cách xin giới chức hữu trách quân đoàn 1 phương tiện yễm trợ ra phá đài truyền hình Huế.
Vì trưởng đài và nhân viên để nguyên trạng máy móc, kỷ thuật bỏ Huế chạy mà không xin lịnh phá huỷ. vc có thể xử dụng tuyên truyền khai thác tâm lý chiến.
Chiều hôm đó, Tôi với Đông đi quay phóng sự hình ảnh sinh hoạt thị xã Đà Nẳng.
Dân từ vùng hoả tuyến Trị-Thiên phía Bắc chạy vào.
Tỉnh lỵ Quảng Nam và Quảng Ngãi kéo tới.
Khiến số lượng dân chúng tập trung tại thị xả này vào tuần lễ chót tháng 3-1975 tăng nhanh theo cấp số nhân.
Đường phố chen chúc người đi bộ. Xe gắn máy và xe hơi kẹt cứng, bóp còi hối thúc in õi giữa không khí oi nồng ngột ngạt đầy ắp hiểm họa chiến tranh ngay trung tâm thị xả Đà Nẳng!
Về phía biển, lưu thông đường đất còn tệ hại gấp bội.
Chung quanh căn cứ bộ tư lịnh Hải Quân Vùng 1, người chực chờ đông đảo, tay xách nách mang chút tài sản gom góp vội, bỏ nhà bỏ đất lánh nạn cộng sản!
Một số không nhỏ, khó ước lượng con số, đã chen chúc lên trên vài chiếc tàu quân vận đậu ở cầu tàu, im lìm không biết chừng nào tách bến, hay là tàu hư hỏng nằm bến chờ tu bổ đại kỳ?
Rất nhiều thuyền thúng, ghe nhỏ nhấp nhô chở đầy người ra chiếc thương thuyền bỏ neo giữa biển nước bao quanh.
Thấy rõ ràng hai chữ Trường Thành phía sau bong tàu.
Chúng Tôi làm nhiệm vụ quay phim phóng sự cấp tốc, không có nhiều thì giờ hỏi han giá cả dịch vụ đưa người ra tàu bao nhiêu tiền hay bao nhiêu vàng!
Có tin đồn đại loan truyền vài chiếc thuyền thúng đã bị lật úp vì sóng đánh ập nước, một số người mất tích không rõ con số đích xác bao nhiêu coi như chết chìm.
Chắc chắn, lẫn lộn trong khối dân chúng từ các quận lỵ,tỉnh thành lân cận Đà Nẳng kéo dồn về đây, cộng quân gài người trà trộn lấy tin tức và thừa cơ phao tin đồn thất thiệt, gieo hoang mang làm xáo trộn,giao động tâm lý quần chúng tạo thêm bất lợi cho chính quyền sở tại!
Tại Huế, Tôi không thấy thông tín viên truyền thông ngoại quốc.
Nhưng tại Đà Nẳng, tình cờ gặp vài đồng nghiệp VN “đi khách” cho NHK và Reuter and UPI!
Đó là chưa kể, chi nhánh Việt Tấn Xả đặt tạm tại cầu thang toà thị chính Đà Nẳng,vì chưa có cơ sở chính thức.
Người bạn Nguyễn Trần Anh từ Sài Gòn ra giữ chức vụ này “gò mình” quanh mấy chiếc Telex gõ lọc cọc liên tục trên mớ giấy trắng tinh. Bận đến độ không thể tiếp chuyện, lúc Tôi tình cờ ghé ngang qua đó để lấy giấy trưng dụng vé hàng không dân sự Air VN để THV Đông bay về Sài Gòn trưa ngày 26-3-1975!
(Mãi đến gần 40 năm sau, gặp lại nhau tại Little Sài Gòn OC California, mới vỡ lẻ “Bạn Ta Nguyễn Trần Anh bị vc “tó” chung với ký giã Trần Quang báo Tiếng Vang và Dân Chủ ra công tác bị kẹt ở Đà Nẳng!
Bị bắt “đi tì”, học tập cải tạo, sau thả ra theo chương trình HO qua Mỹ tự do sinh sống)
Rất may mắn, tại đây Tôi gặp Đại Tá Tôn Thất Khiên, phụ tá Phó Thủ Tướng Phan Quang Đán đặc trách bình định phát triển lo tái định cư quân dân cán chính miền trung tị nạn cộng sản.
Tôi đã nảy ra sáng kiến xin Ông ký giấy trưng dụng ưu tiên khẩn cấp 10 chỗ Air VN từ Đà Nẳng bay vào Sài Gòn.
Với giấy phép này, Tôi đã gặp Ông Mân, chi cuộc trưởng Air VN Đà Nẳng lấy 10 vé để trống tên hành khách cũng như chưa có ngày giờ chuyến bay. Sẽ điền tên vào tại nhà ga phi trường dân sự Đà Nẳng trước giờ lên máy bay.
Ngày 26-3-1975, Tôi tới nhà Trung Uý Bác Sỉ Quân Y Đồng Sỉ Nam đón Quý Hương và người chị mới sinh con trai đầy tháng lên phi trường nhờ Đông “hộ tống”bay vô Sài Gòn trước!
Đến ngày 27-3-1975, Tôi đón phái đoàn đại diện Dân Vận trung ương do anh Nguyễn Tiến Thịnh và Cao Đắc Tuyên lảnh đạo đem tiền ra ủy lạo cứu trợ gia đình thông tin dân vận vùng 1.
(Hiện 2 Anh NT Thịnh và CĐ Tuyên đang sống ở Little Saigon thủ phủ Người Việt Tị Nạn vc Hoa Kỳ)
Ngoài ra còn có các chuyên viên kỷ thuật điện tử: Thái Hạnh, Võ Văn Sáu, Nguyễn Quang Minh và trần sum(K1-VTX cựu trưởng đài TV Huế).
Huỳnh Quy, trưởng đài phát thanh Đà Nẳng và một số nhân viên đem xe ra đón.
Tôi liên lạc đưa phái đoàn vào gặp Đại Tá Hoàng Mạnh Đáng, tham mưu trưởng Quân Đoàn 1 để xin tiếp xúc với Trung Tướng Trưởng nhờ yểm trợ trực thăng ra phá đài truyền hình Huế.
Đại Tá Đáng tiếp phái đoàn một cách cấp tốc.
Đi thẳng vào vấn đề cho biết rõ ràng nhanh chóng:
“Xin lỗi quý vị! Hiện tại,chúng tôi không đủ phương tiện trực thăng để yễm trợ lương thực, cũng như đạn dược cho các đơn vị chiến đấu trực thuộc đang giao tranh khốc liệt với địch quân.
Cho nên quân đoàn 1 rất lấy làm buồn không thể nào thỏa mãn yêu cầu do quý vị đưa ra.
Trung Tướng Tư Lịnh Quân Đoàn nhờ Tôi chuyễn lời khuyên tới quí vị nên nhanh chóng về lại Sài Gòn trình lên với trung ương những khó khăn bất khả kháng của chúng tôi”
Cuộc hội kiến xảy ra chóng vánh không đầy 10 phút, bằng câu cám ơn kết thúc như lời chào tiễn khách:
“Cám ơn quý vị nhiều. Xin hẹn gặp lại vào dịp khác”!
Ngay sau đó, cả phái đoàn tiu nghỉu vội vã ra xe theo Huỳnh Quy về tạm trú qua đêm tại đài phát thanh Đà Nẳng, phía bên biển Sơn Chà, sát nách đài radar Mỹ được chuyển giao cho hải quân vùng 1 cai quản. Khuya đêm đó, đặc công vc kéo quân di chuyển ngang qua trước cổng đài phát thanh, đột kích bắn phá và dùng chất nổ phá hủy cơ sở đài radar Sơn Chà.
Phái đoàn trung ương gồm những người ngồi văn phòng làm việc có máy lạnh chưa hề “nếm mùi vị chiến trường” một phen hốt hoảng kinh hồn, bạt vía nghỉ rằng không còn cơ hội trở về mái ấm gia đình.
Trong những lần họp mặt ACE THVN9, Anh Tuyên rất thẳng thắng thú nhận: ”Đêm đó tưởng chết rồi. Thấy vc mặc đồ đen, mang súng ống rầm rộ đi chuyển trước cổng đài, mà CSDC bảo vệ không khai hoả.
Anh em lấy bàn ghế chận cửa tạo trở ngại ra vào.
Núp coi qua cửa kiếng, bụng đánh lô tô, tim đập thình thịch, run bỏ mẹ.
Tao bắt thang leo lên trần nhà núp. Tụi vc bắn phá dữ dội lắm. Đinh tai nhức óc.
Hú vía còn sống”
Tôi ngủ ngoài phố. Nửa đêm điện thoại reo vang. Tôi bốc máy, nghe anh Nguyễn Tiến Thịnh nói như “trăn trối”:
-Em liên lạc gấp với Anh Hoà làm công điện khẩn trưng dụng AirVN để phái đoàn về. Nếu qua khỏi đêm nay, còn sống, mai sáng sẽ gặp sớm tại phi trường.
Tôi gọi Khánh Vân nhờ em Tôi Chu Hạ “hotline” gặp Anh Hoà chuyển đạt những gì trưởng phái đoàn là Anh Thịnh đã nói!
Riêng Tôi, thêm sáng kiến gọi về phòng điều hợp không vận tổng tham mưu xin giữ 10 chỗ trong chuyến bay quân sự C130 sớm nhứt để phái đoàn về,trong trường hợp AirVN trục trặc hủy chuyến bay.
Bởi sự quen biết được tín nhiệm tin cậy, trong vấn đề giao dịch làm việc phục vụ quốc gia, Trung Tá Cương, trưởng phòng điều hợp không vận TTM đã tận tình “booking manifest” giữ chỗ trước cho phái đoàn.

Đà Nẳng 28-3-1975
Với tình thế,quá khẩn trương,Tôi giãi thích cho đại gia đình Quý Hương biết tất cả mọi người muốn đi cứ lên hết phi trường “standby”!
Tôi không dám nói rõ những gì có thể xảy ra vì không đủ dữ kiện trong tay. Chỉ phó thác số mệnh “từ cơ ứng biến”, từng giai đoạn tuỳ theo hoàn cảnh.
Sáng hôm đó, có một chuyến Air VN, và hai chuyến máy bay quân sự C130 đáp Đà Nẳng.
Anh Tuyên nguyên thuỷ làm việc cho hàng không dân sự, có nhà trong khu cư xá Tân Sơn Nhứt, cho nên có “phe ta” đưa lên tàu vọt sớm về Sài Gòn.
Số anh em còn lại bị chờ “dài người” bay chuyến chiều.
Phi trường Đà Nẳng, trạm Air VN đối nghịch Air Kaki quân sự, chia đôi bởi nhiều đường bay chắn ngang chính giữa.
Tôi phải vận dụng mọi phương tiện, lấy mười người của gia đình QH, từ trạm hàng không dân sự đưa qua trạm hàng không quân sự bay bằng C130 vào Sài Gòn.
Số còn lại, Tôi dùng vé AirVN đã mua sẳn từ Ông Mân chi cuộc trưởng Đà Nẳng.
Khoảng 2 giờ chiều, hai chuyến phản lực AirVN đáp.
Chỉ có chiếc Boeing 727 vào trạm.
Võn vẹn một hành khách duy nhứt bước xuống tàu là Thiếu Tá CSQG Liên-Thành.
Chiếc thứ hai bị trực thăng bay chận đầu mũi không cho chuyển động.
Sau đó, Tôi thấy một chiếc trực thăng thứ hai đáp bên cạnh thả một số người xuống, hấp tấp chạy thẳng lên cầu thang biến mất vào trong lòng máy bay.
Chỉ trong thoáng chốc máy bay tức tốc cất cánh.
Lấy tư cách báo chí, Tôi tìm hiểu được giới chức thẫm quyền Air VN địa phương cho biết Vị Tư Lịnh Quân Đoàn dùng quyền trưng dụng phương tiện “di tản thân nhân gia đình” khỏi vùng giao tranh chiến sự.
Thủ tục khám xét hành khách ưu tiên cho lên tàu trước là phái đoàn Dân Vận trung ương.
Nhân cơ hội này, Tôi gài hết những người còn lại của gia đình QH đi ké liền sau lưng phái đoàn, may mắn lên máy bay một cách trót lọt.
Tôi là người bọc hậu đi sau chót, bất ngờ bị trần sum níu lại cho biết không được phép qua khỏi cổng vì “metal detector” rú lên, nhân viên công lực chận lại khám người lòi ra khẩu k54 súng của vc dấu trong nách áo. Tôi hơi bực, giọng có vẻ xì nẹt:
-“Anh muốn giử súng thì ở lại về sau. Bỏ súng lại lên tàu về Sài Gòn báo cáo mất!”
Nhưng trong đầu, Tôi thắc mắc bắt đầu hoài nghi “tại sao tên này có súng cộng sản k54, không lẽ hắn làm tay sai nằm vùng cho vc”!
Rồi Tôi lo áp tải người nhà Quý Hương hối hả lên máy bay.
Đột ngột, cảnh náo loạn xảy ra, hành khách chen lấn xô đẩy nhau chạy túa ra sân, tràn lên thang máy bay.
Rất may mắn, hành khách thuộc thành phần ưu tiên lên máy bay trước, không gặp trở ngại trong việc ngồi vào ghế không cần đúng chỗ ghi trên vé.
Thấy ghế trống ngồi đại vào đó là yên chuyện.
Phi hành đoàn phát giác ra cảnh hổn loạng bùng nổ bất ngờ, vội vã đóng ập cửa máy bay. Cấp tốc di chuyển phi cơ ra đường bay cất cánh liền. Trong khi, một số người còn đứng lố nhố, mà không có ghế ngồi.
Thật là kinh hoàng, Tôi không đủ khả năng diễn tả nỗi lo sợ khủng khiếp xảy ra lúc đó, lòng phập phòng nơm nớp chỉ sợ máy bay rớt bất tử.
Cuối cùng, máy bay đáp Tân Sơn Nhứt với hơn 2 giờ trên không phận, thay vì thông thường bay từ Đà Nẳng vào Sài Gòn chỉ mất một giờ 15 phút thôi.
Nghe nói phi cơ không thể kéo bánh lên vì bị kẹt hình như có người đeo trốn ở trong đó.